Tìm hiểu ngộ độc Methanol phổ biến hiện nay. Methanol, còn được gọi là cồn gỗ, là một dung môi hữu cơ được sử dụng phổ biến trong các sản phẩm . Như dung dịch phun kính ô tô, chất tẩy rửa, nhiên liệu các lò đốt,… Ngộ độc methanol vẫn là một vấn đề phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới đang phát triển. Đặc biệt là ở các thành viên thuộc các tầng lớp kinh tế xã hội thấp hơn. Điều trị ngộ độc cấp methanol cần phải được tiến hành sớm, đúng phương pháp. Mới có thể cứu sống bệnh nhân và hạn chế biến chứng.

Tìm hiểu về Methanol
Đại cương về tìm hiểu ngộ độc Methanol
Methanol hay còn gọi là methyl alcohol có công thức hóa học là CH4O hay CH3OH. Được người Hy Lạp cổ tình cờ phát hiện khi thủy phân gỗ, tuy nhiên sản phẩm methanol lúc đó tồn tại dưới dạng tạp chất, lẫn với các chất khác. Methanol nguyên chất được tổng hợp lần đầu tiên bởi Robert Boyle vào năm 1661 . Bằng cách thủy phân gỗ Hoàng Dương. Đến nay methanol được sản xuất trong công nghiệp bằng phản ứng hóa học. Với cơ chất sử dụng phổ biến là carbon monocid (CO), carbon diocid (CO2) và khí hydro (H2). Methanol là một dung dịch không màu, bay hơi ở nhiệt độ phòng, trọng lượng phân tử 32dalton, điểm sôi là 64,7°C, trọng lượng riêng là 0,8115.
Trong tự nhiên tồn tại một số loại vi khuẩn sinh ra methanol thông qua phản ứng chuyển hóa kỵ khí . Nhưng sau đó methanol lại phản ứng với oxy chuyển hóa thành khí CO2 và nước. Do đó lượng methanol sinh ra do phản ứng lên men của vi khuẩn tự nhiên có số lượng không đáng kể.
Methanol có một số tính chất vật lý khá giống ethanol, là một chất lỏng không màu, dễ bay hơi, mùi nhẹ . Và vị gần giống ethanol, nhưng rất độc và không được dùng làm đồ uống.
Độc động học
Hấp thu
Methanol hấp thụ nhanh sau khi uống, với thời gian hấp thu trung bình là 5 phút. Tùy thuộc sự có mặt thức ăn hay không, nồng độ đỉnh đạt được sau 30-60 phút. Methanol hấp thụ tương đối tốt qua da. Methanol hấp thu tốt ở đường hô hấp vì nó tan trong nước và hấp phụ một phần . Bởi chất nhầy đường hô hấp, ước tính hấp thu qua phổi khoảng 65-75%20.
Phân bố
Methanol tan trong nước, thể tích phân bố khoảng 0,6-0,7 l/kg, không gắn protein huyết tương, thời gian bán thải trung bình là 14-30 giờ, nếu uống cùng ethanol thời gian này là 43-96 giờ.
Liều gây độc
Hầu hết các chuyên gia đều thống nhất bắt đầu điều trị giải độc khi nồng độ methanol máu từ 20mg/dl. Vì đây là nồng độ bắt đầu có tổn thương thị giác và toan chuyển hóa. Uống 30-100 ml methanol nguyên chất gây tử vong, liều nhỏ hơn 4 ml gây suy giảm thị lực thậm chí gây mù.
Xem thêm : >>> Methanol 50% | Dung môi CH3OH 50%
Chuyển hóa trong cơ thể và cơ chế gây độc của ngộ độc Methanol
- Chuyển hóa methanol
Methanol vào cơ thể qua đường tiêu hóa, hô hấp, qua da, hoặc trực tiếp qua đường tĩnh mạch. Trải qua quá trình hấp thu nhanh sau đó tới tất cả các tạng và mô.
Quá trình chuyển hóa methanol chủ yếu xảy ra ở tế bào gan (97%). Lượng nhỏ bị thải trừ ở dạng nguyên chất qua nước tiểu (1%) và khí thở ra (2,5%). Chuyển hóa methanol qua 2 giai đoạn.
- Giai đoạn 1: Chuyển hóa methanol thành formaldehyd nhờ 3 hệ thống enzym: acohol dehydrogenase (ADH), hệ thống oxy hóa rượu ở microsom (microsome alcohol oxidizing system- MEOS) và catalase.
- Giai đoạn 2: Formaldehyd được hình thành là một chất độc sẽ nhanh chóng được enzym formaldehyd dehydrogenase (FDH) chuyển thành acid formic.
Tìm hiểu đặc điểm bệnh nhân ngộ độc cấp methanol
Đặc điểm lâm sàng bệnh nhân ngộ độc cấp methanol
Biểu hiện lâm sàng trong ngộ độc cấp methanol là tổn thương đa tạng. Ở bệnh nhân ngộ độc cấp methanol điển hình. Các triệu chứng ức chế hệ thần kinh trung ương nhẹ xuất hiện đầu tiên, trong vòng 30 phút sau uống. Sau đó thường có 2 giai đoạn: Giai đoạn kín đáo (khoảng 12-24 giờ, có thể dài hơn tùy thuộc số lượng methanol uống. Có uống cùng ethanol, có nôn hay không cũng như chức năng thận) và giai đoạn ngộ độc rõ với tình trạng toan chuyển hóa mất bù, rối loạn thị lực. Thở Kussmaul do toan chuyển hóa, suy hô hấp, sốc.
Đặc điểm cận lâm sàng bệnh nhân ngộ độc cấp methanol
Rối loạn thăng bằng toan kiềm:
Bệnh nhân sau uống rượu có biểu hiện toan chuyển hóa tăng khoảng trống anion và khoảng trống ALTT . Trong khi lactat tăng vừa phải nên nghĩ đến ngộ độc methanol. Chiến lược này có ý nghĩa quan trọng vì xét nghiệm định lượng methanol cần thời gian. Trong khi phải xử trí tích cực ngay. Tuy nhiên cần phân biệt với một số bệnh cảnh lâm sàng tương tự . Như toan ceton do đái tháo đường, toan ceton do rượu, sốc nhiễm khuẩn.

Chẩn đoán ngộ độc cấp methanol
Chẩn đoán hướng tới ngộ độc methanol
Cần nghĩ đến ngộ độc cấp methanol khi tiếp cận cấp cứu bất kì một bệnh nhân nào. Có các biểu hiện lâm sàng gợi ý bất thường về ý thức và thị lực:
Mới uống rượu, hóa chất nghi ngờ có methanol.
Nếu đến sớm có thể chỉ biểu hiện nôn, rối loạn ý thức nhẹ, rối loạn hành vi, rối loạn thị giác nhẹ, nhìn mờ. Nếu đến muộn hơn có thể hôn mê, co giật, vật vã, thở nhanh sâu hoặc phù phổi, tụt huyết áp, thiểu niệu, vô niệu.
Chẩn đoán phân biệt
Ngộ độc cấp ethanol (tăng ALTT, toan lactic, đáp ứng với điều trị thông thường).
Tình trạng bệnh lý có nhiễm toan chuyển hóa tăng khoảng trống anion:
- Nhiễm toan ceton do đái tháo đường.
- Nhiễm toan ceton do rượu.
- Nhiễm toan lactic (ngộ độc metformin, sốc nhiễm khuẩn, viêm tụy cấp…)
Chẩn đoán xác định
Theo Zakharov và cộng sự bệnh nhân được chẩn đoán ngộ độc cấp methanol khi:
- Bệnh sử có tiếp xúc methanol và nồng độ methanol > 20mg/dl và/hoặc khoảng trống ALTT ≥ 20mosm/kgH2O (không có ethanol), hoặc
- Bệnh sử/lâm sàng ngộ độc methanol và có methanol trong máu với ít nhất 2 tiêu chuẩn: pH<7,3, bicarbonat < 20mmol/l, khoảng trống anion ≥ 20mmol/l
Tham khảo thêm : >>> Dung môi Methanol CH3OH công nghiệp và thông tin về hóa chất methanol
Tìm hiểu điều trị ngộ độc cấp methanol
Lọc máu trong điều trị ngộ độc cấp methanol
Điều trị bằng thuốc giải độc đặc hiệu không thể ngăn chặn hoàn toàn các sản phẩm chuyển hóa của methanol. Như formaldehyd, acid formic, chỉ làm chậm quá trình chuyển hóa. Sau đó các chất chuyển hóa sẽ dần đào thải qua gan, thận, phổi. Vấn đề là lượng acid formic tạo ra từ chuyển hóa methanol lớn hơn nhiều. So với lượng acid formic được thải trừ, kết quả là tích tụ acid formic. Methanol và các chất chuyển hóa là những phân tử nhỏ nên đều lấy ra được bằng thẩm tách máu. Lọc máu còn là liệu pháp giúp điều chỉnh toan chuyển hóa nặng. Đặc biệt ở những trường hợp bệnh nhân đến sớm, nồng độ methanol cao. Nếu chỉ dùng fomepizole hoặc ethanol thì phải dùng dài ngày, lọc máu nên được cân nhắc . Vì tính hiệu quả, tiết kiệm chi phí.
Tìm hiểu chất giải độc đặc hiệu trong điều trị ngộ độc cấp methanol
Ethanol có ái lực với enzym ADH cao hơn so với methanol . Nên khi cùng tồn tại trong máu ethanol sẽ chuyển hóa trước do đó ngăn chặn chuyển hóa methanol thành sản phẩm độc là acid formic.
Fomepizole được thấy có khả năng ức chế ADH rất cao. Khi methanol không được chuyển hóa thì tác dụng gây độc của acid formic sẽ không xuất hiện. Nghiên cứu trên khỉ nồng độ fomepizole khoảng 0,8 mg/l là có khả năng ức chế hoạt động của ADH.
Tại sao nên chọn Vũ Hoàng?
– Giá cả luôn luôn hợp lý nhất, đúng giá đúng công việc;
– Tư vấn nhiệt tình, đầy đủ đến Quý khách hàng, miễn phí, chính xác để khách hàng nắm các quy định mới. Và cách thực hiện tránh vi phạm hoặc tốn kém trong suốt quá trình hoạt động;
– Uy tín, nhanh nhẹn và bảo mật. Vũ Hoàng luôn đặt uy tín lên hàng đầu để cùng đồng hành với khách hàng.
– Với phương châm: “Luôn đồng hành và hợp tác lâu dài cùng Quý khách hàng để cùng phát triển và bảo vệ môi trường!”
Rất mong được Quý khách tin tưởng và liên hệ với Công ty chúng tôi theo số HOTLINE 0945609898 .

